Albert Einstein  

  1. Tiểu sử
  • Albert Einstein (14/3/1879 – 18/4/1955) là một nhà vật lý lý thuyết người Đức, được công nhận là một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất mọi thời đại, người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột còn lại là cơ học lượng tử).
  • Sinh ngày: ngày 14 tháng 3 năm 1879 ở Ulm, Württemberg, Đức
  • Mất ngày: 18 tháng 4 năm 1955 tại Princeton, New Jersey
  • Albert Einstein sinh ra trong một gia đình gốc Do Thái tại thành phố Ulm, bên dòng sông Danube, tiểu bang Baden-Württemberg, nước Đức ngày 14 tháng 3 năm 1879.  Gia đình có 5 người gồm bố mẹ ông Pauline Koch và Hermann Einstein, ông và hai cô em gái. Hồi nhỏ Einstein đã gặp đôi chút vấn đề khó khăn trong nói chuyện với người khác.
  • Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901. Sau khi tốt nghiệp trường Eidgenössische Technische Hochschule (một trường đại học kỹ thuật) năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III.
  • Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản 3 công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp.
  •  Sau khi phát kiến ra nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, Einstein trở thành giảng viên tại Đại học Bern năm 1908, rồi thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu được biết đến là một nhà khoa học hàng đầu. 1911, trong khi chuyển đến giảng tại Đại học Karl-Ferdinand ở Praha, ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời.
  • Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Ông bắt đầu lâm bệnh từ năm 1949 và viết di chúc năm 1950.
  •  Năm 1952, chính phủ Israel mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông từ chối. Một tuần trước khi mất, Einstein ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955 do mắc chứng phình động mạch chủ bụng .
  1. Sự nghiệp khoa học
  • Năm 1990, ông tốt nghiệp lấy được bằng cử nhân đại học. Đây là thời kỳ long đong, khó khăn nhất của ông bởi ông lâm vào cảnh thất nghiệp.
  • Vào giữa thời điểm Thế chiến I, Einstein đã đưa ra lý thuyết chung của ông về Thuyết tương đối.
  • Năm 1917, ông sử dụng thuyết tương đối rộng để miêu tả mô hình cấu trúc của toàn thể vũ trụ.
  • Đến năm 1919 Thuyết tương đối đã được đưa vào thử nghiệm, nhưng không phải bởi Einstein.
  •  Năm 1929, ông xuất bản bài báo đầu tiên về lý thuyết mới trên  bìa của tạp chí Time. Nhưng lý thuyết ông đưa ra có những lỗ hổng mà các nhà khoa học đã nhanh chóng chỉ ra.
  • Trong các năm 1921 và 1922, Einstein đã đưa ra bài giảng về lý thuyết của mình đi khắp thế giới bao gồm cả Palestine, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, và nhiều nơi khác. Ở mỗi nơi ông đi qua, ông đều được chào đón nồng nhiệt.
  • Einstein bắt đầu tìm kiếm cho mình một lý thuyết mới gắn kết giữa điện, điện từ trường, cơ học lượng tử, và lực hấp dẫn.
  • Ngoài ra dưới đây là một số phát minh đáng chú ý của ông
  • Trong những năm 1920, tủ lạnh dùng chất làm lạnh là những hợp chất độc hại, ăn mòn cao và dễ cháy như sulfur dioxide hay methyl formate.
  • Đột phá tiếp theo của Einstein là trong công nghệ máy nghe.
  • Einstein cùng người bạn của mình, Gustav Peter Bucky để tạo một camera có thể điều chỉnh tự động để thích nghi với độ sáng xung quanh.
  1. Giải thưởng
  2. Giải thưởng đoạt được
  • Giải Nobel Vật lý 1921
  • Huy chương Matteucci 1921
  • Huy chương Copley 1925
  • Huy chương Max Planck đầu tiên 1929
  • The Franklin Institute Awards 1935: Albert Einstein
  1. Các giải thưởng mang tên Albert Einstein
  • Giải thưởng Albert Einstein do Lewis and Rosa Strauss Memorial Fund thành lập năm 1951 nhằm trao cho các công trình vật lý lý thuyết nổi bật trong khoa học tự nhiên.
  • Huy chương Albert Einstein do Hội Albert Einstein lập 1979 trao hàng năm cho những người có cống hiến xuất sắc liên quan tới công trình của Albert Einstein 
  • Giải Einstein của Hội Vật lý Hoa Kỳ thành lập năm 2003 trao 2 năm một lần cho những người có thành tựu nổi bật trong lĩnh vực tương tác hấp dẫn.
  •  Giải Khoa học thế giới Albert Einstein do Hội đồng Văn hóa Thế giới lập năm 1984 trao hàng năm cho các công trình nhìn nhận và khuyến khích các người có công nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật đem lại lợi ích thiết thực cho nhân loại. 
  • Albert Einstein Peace Prize được khởi động từ năm 1979 nhân dịp 100 năm ngày sinh Albert Einstein, trao cho những người đã đóng góp cho hòa bình thế giới. Giải thưởng đầu tiên được trao cho Alva Reimer Myrdal

4. Những câu nói nổi tiếng của Albert Einstein  

  • Một người hạnh phúc luôn hài lòng với hiện tại, thay vì lo lắng cho tương lai.
  • Cách duy nhất để thoát khỏi sự trì hoãn đó là tiếp tục làm việc không ngừng nghỉ.
  • Cảm giác chính là một thứ đầy định kiến nằm trong đầu bạn khi bắt đầu bước sang tuổi 18.
  • Điều duy nhất tôi học được từ cuộc sống đó là tất cả những khái niệm khoa học chống lại thực tế, đều nguyên sơ. Tuy nhiên, đó lại là thứ giá trị nhất mà chúng ta có.
  • Chúng ta đều biết rằng sự phân biệt tạo ra quá khứ, hiện tại và tương lai; chứ không phải sự cố chấp, cứng đầu và ảo tưởng.
  • Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi. 

Life and career

  • Albert Einstein (March 14, 1879 – April 18, 1955) was a German theoretical physicist who developed the general theory of relativity. He is widely regarded as one of the greatest physicists of all time. In general, one of modern physics’ two pillars (the other being quantum mechanics).
  • In Ulm, Württemberg, Germany, on March 14, 1879, he was born.
  • On April 18, 1955, in Princeton, New Jersey, he died.
  • On March 14, 1879, Albert Einstein was born into a Jewish family in the city of Ulm, on the Danube, in the state of Baden-Württemberg, Germany. His parents, Pauline Koch and Hermann Einstein, as well as his two sisters, make up his family of five. Einstein struggled to communicate with others as a child.
  • In 1896, Einstein renounced his German citizenship and was granted Swiss citizenship in 1901. He taught mathematics at a technical university after graduating from the Eidgenössische Technische Hochschule (a technical university) in Zurich, Switzerland in 1900. another in Winterthur, and then, from 1902 to 1908, began working as a class III technical assessor for the technical patent office in Bern.
  • After discovering the equivalence principle of gravity in 1907, Einstein went on to become a lecturer at the University of Bern in 1908, then a professor of physics at the University of Zurich in 1909, and he became known as a scientist. While transferring to Karl-Ferdinand University in Prague in 1911, he made the first prediction of general relativity, stating that light must follow a curve as it approaches the Sun.
  • Einstein was an anti-war activist who raised $6 million in 1944 by auctioning off his manuscript of special relativity. In 1949, he became ill, and in 1950, he wrote his will.
  • The Israeli government offered Einstein the presidency in 1952, but he declined. Einstein signed a letter urging countries not to build nuclear weapons a week before his death. He died of an abdominal aortic aneurysm on April 18, 1955, in Trenton, New Jersey.
  1. Scientist career
  • He received his bachelor’s degree from university in 1990. Because he was unemployed, this was the longest and most difficult period for him.
  • During World War I, Einstein developed his general theory of relativity.
  • He applied general relativity to describe the structural model of the entire universe in 1917.
  • Relativity had been tested by 1919, but not by Einstein.
  • On the cover of Time magazine in 1929, he published the first paper on the new theory. However, scientists were quick to point out flaws in his theory.
  • In 1921 and 1922, Einstein lectured on his theory all over the world, including Palestine, Japan, the United States, and France, among many others. He was greeted warmly everywhere he went.
  • Einstein began to look for a new theory that would link electricity, electromagnetism, quantum mechanics, and gravity.
  • Some of his notable inventions are also listed below.
  • Refrigerators used toxic, highly corrosive, and flammable refrigerants such as sulfur dioxide or methyl formate in the 1920s.
  • Einstein’s next achievement was in hearing technology.
  • Einstein collaborated with his friend Gustav Peter Bucky to develop a camera that can automatically adjust to ambient light.
  1. Award
  2. Prize won
  • 1921 Nobel Prize in Physics
  • Matteucci Medal 1921
  • Copley Medal 1925
  • First Max Planck Medal 1929
  • The Franklin Institute Awards 1935: Albert Einstein
  1. Albert Einstein Memorial Prizes
  • The Lewis and Rosa Strauss Memorial Fund established the Albert Einstein Prize in 1951 to recognize outstanding contributions to theoretical physics in the natural sciences.
  • The Albert Einstein Medal, established in 1979 by the Albert Einstein Society, is given annually to those who have made outstanding contributions to Albert Einstein’s work.
  • The American Physical Society’s Einstein Prize, established in 2003, is awarded every two years to individuals who have made outstanding contributions to the field of gravitational interaction.
  • The World Cultural Council established the Albert Einstein World Science Prize in 1984 to recognize and encourage people who have contributed to scientific and technological research and development, bringing practical benefits to humanity.
  • The Albert Einstein Peace Prize was established in 1979 to commemorate the 100th anniversary of Albert Einstein’s birth, and it is awarded to those who have made significant contributions to world peace. Alva Reimer Myrdal was awarded first place.

4. Albert Einstein Famous Quotes

  • A happy man is too satisfied with the present to dwell too much on the future. Albert Einstein
  • The only way to overcome procrastination is to work continuously.
  • Feelings are the preconceived notions that enter your mind when you reach the age of 18.
  • The only thing I’ve learned from that experience is that all scientific concepts pitted against reality are primitive. However, it is the most valuable asset we possess.
  • We are all aware that distinction is what creates the past, present, and future, not bigotry, stubbornness, or delusion.
  • Learn from the past, live in the present, and hope for the future. The most important thing is to continue to ask questions.
  • Don’t listen to the person who has the answers; listen to the person who has the questions. Albert Einstein
  • Nothing truly valuable arises from ambition or from a mere sense of duty; it stems rather from love and devotion toward men and toward objective things. Albert Einstein
  • If you want your children to be intelligent, read them fairy tales. If you want them to be more intelligent, read them more fairy tales. Albert Einstein

FRANKLIN D.ROOSEVELT

TIỂU SỬ

Franklin Delano Roosevelt sinh ngày 30 tháng 1 năm 1882 tại thị trấn Hyde Park thuộc thung lũng sông Hudson, tiểu bang New York. Cha của Franklin, James Roosevelt, Sr. và mẹ, Sara Ann Delano đều xuất thân từ những gia đình giàu có lâu đời ở tiểu bang New York. Họ nội của Franklin là người gốc Hà Lan trong khi họ ngoại đến từ Pháp. Franklin là người con duy nhất của gia đình.

Roosevelt lớn lên trong một môi trường sống với nhiều đặc quyền. Bà nội của Franklin, Mary Rebecca Aspinwall, là chị em họ với Elizabeth Kortright Monroe, phu nhân tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ, James Monroe. Còn ông ngoại của Franklin, Warren Delano, Jr., là hậu duệ của những nhà lập quốc đến đất Mỹ trên tàu Mayflower, Richard Warren, Isaac Allerton, Degory Priest, và Francis Cooke, từng làm giàu nhờ buôn nha phiến tại Trung Hoa.

Roosevelt đến học tại trường nội trú Groton thuộc giáo hội Anh giáo tại tiểu bang Massachusetts

Roosevelt hoàn tất chương trình cử nhân tại trường đại học Harvard (Harvard College là một trường thuộc viện Đại học Harvard). Đang lúc học ở Harvard, người anh em họ năm đời của Franklin là Theodore Roosevelt đắc cử tổng thống; chính phong thái lãnh đạo cương quyết của Theodore và nhiệt tâm cải cách đã biến ông thành hình mẫu lý tưởng và nhân vật anh hùng trong mắt FDR.

Năm 1905, FDR vào trường luật Columbia nhưng không bao giờ tốt nghiệp. Sau khi qua được kỳ thi sát hạch của Luật sư đoàn tiểu bang New York năm 1907, Roosevelt quyết định bỏ học. Năm 1908, Roosevelt đến làm việc cho một tập đoàn nhiều uy tín ở Wall Street – Carter, Ledyard and Milburn – chuyên về luật công ty.

SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ BAN ĐẦU

Thượng nghị sĩ Tiểu bang New York:  Roosevelt nhậm chức ngày 1 tháng 1 năm 1911 và trở thành thủ lĩnh nhóm “phản loạn” chống đối bộ máy chính trị “Tammany Hall” (nhóm chính trị thuộc Đảng Dân chủ luôn đóng vai trò chính kiểm soát chính trường thành phố New York) là nhóm đang chi phối Đảng Dân chủ của tiểu bang.

Trợ tá Bộ trưởng Hải quân Trợ tá Bộ trưởng Hải quân Roosevelt: Năm 1913, Woodrow Wilson bổ nhiệm Roosevelt vào chức vụ Phụ tá Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ, phục vụ dưới quyền của Bộ trưởng Josephus Daniels

Vận động tranh cử Phó Tổng thống Hoa Kỳ: Đại hội Đảng toàn quốc năm 1920 của Đảng Dân chủ chọn Roosevelt là ứng viên Phó Tổng thống Hoa Kỳ trong liên danh tranh cử tổng thống của Thống đốc tiểu bang Ohio là James M. Cox. Tuy nhiên liên danh tranh cử của Cox-Roosevelt bị liên danh tranh cử của phe Cộng hòa là Warren G. Harding đánh bại thảm hại trong cuộc bầu cử tổng thống. Lúc đó Roosevelt trở về hành nghề pháp lý tại New York và gia nhập Câu lạc bộ Civitan New York vừa mới được thành lập, nhưng ít có ai nghĩ rằng một ngày không xa ông sẽ quay trở lại tranh cử vào một chức vụ công.

SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ

Thống đốc Tiểu bang New York, 1928-1932: Trong cuộc vận động tái tranh cử năm 1930, Roosevelt cần sự thiện chí của nhóm Tammany Hall ở Thành phố New York; Tuy nhiên, đối thủ của ông thuộc Đảng Cộng hòa là Charles H. Tuttle đã nêu chuyện tham nhũng của nhóm Tammany Hall ra làm vấn đề tranh cử. Khi bầu cử sắp đến, Roosevelt ra lệnh điều tra việc mua bán các chức vụ tư pháp. Ông đắc cử nhiệm kỳ hai với con số cách biệt khoảng 700.000 phiếu.

Bầu cử Tổng thống năm 1932:

Nhờ hậu thuẫn của tiểu bang đông dân nhất mà Roosevelt trở thành ứng viên sáng giá trong cuộc chạy đua tranh sự đề cử của Đảng Dân chủ. Song cuộc đua trở nên quyết liệt hơn khi có những dấu hiệu cho thấy tổng thống đương nhiệm, Herbert Hoover, sẽ thất bại trong kỳ bầu cử tổng thống năm 1932.

Khi nhà lãnh đạo tiểu bang Texas John Nance Garner quay sang ủng hộ FDR thì vị lãnh đạo này được đề cử vào chức vụ phó tổng thống trong liên danh tranh cử của Roosevelt.

Roosevelt chiến thắng với 57% số phiếu phổ thông và thắng tại tất cả trừ 6 tiểu bang.

Nhiệm kỳ thứ nhất, 1933-1937: 

Roosevelt tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1933, lúc này nước Mỹ đang ở thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử.

New Deal lần thứ nhất, 1933-1934

Từ ngày 9 tháng 3 đến 16 tháng 6 năm 1933, ông đệ trình Quốc hội con số kỷ lục các dự luật, và tất cả đều được thông qua

Lễ nhậm chức của Roosevelt vào ngày 4 tháng 3 năm 1933 diễn ra khi nước Mỹ đang trong tình trạng hốt hoảng vì sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Tình huống này cho ra đời câu nói nổi tiếng của ông: “Điều duy nhất mà chúng ta nên sợ hãi là nỗi sợ của chính mình”

Ngay hôm sau, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ngân hàng Khẩn cấp (Emergency Banking Act) tuyên bố một “ngày lễ ngân hàng” và thông báo một chương trình cho phép các ngân hàng mở cửa lại

Đây là bước đề nghị đầu tiên của ông về phục hồi kinh tế.

Kế hoạch cứu trợ của Roosevelt gồm có việc tiếp tục chương trình cứu trợ của Hoover nhưng mang một tên mới, Cơ quan Cứu trợ Khẩn cấp Liên bang

Roosevelt xem việc cứu trợ nông nghiệp là ưu tiên cao, ông cho thiết lập Cơ quan Điều chỉnh Nông nghiệp với nhiệm vụ nâng cao giá nông sản bằng cách trả tiền cho nông gia ngưng canh tác và cắt giảm số thú nuôi.

Cải cách nền kinh tế là mục tiêu của Đạo luật Khôi phục Công nghiệp Quốc gia (National Industrial Recovery Act – NIRA) năm 1933 nhằm chấm dứt tình trạng cạnh tranh khốc liệt bằng cách buộc các ngành công nghiệp phải tuân thủ bộ quy tắc ấn định cơ chế vận hành cho mọi công ty trong ngành như giá sàn, thỏa hiệp tránh cạnh tranh và định mức sản xuất.

Chính sách phục hồi kinh tế được theo đuổi bằng phương sách “bơm vào tiền mồi” (chính là chi tiêu của liên bang). NIRA chi tiêu 3,3 tỷ USD cho Cơ quan Công chính do Bộ trưởng Nội vụ Hoa Kỳ Harold Ickes đảm trách nhằm kích thích nền kinh tế.

Sắc lệnh Hành chính số 6102 đặt toàn bộ vàng cá nhân của công dân Hoa Kỳ thành tài sản ngân khố Hoa Kỳ. Mục đích là để đối phó tình trạng lạm phát đang hoành hành nền kinh tế.

Việc bãi bỏ luật cấm rượu cồn cũng mang đến một nguồn thu nhập mới từ thuế và giúp ông giữ lời hứa trong lúc vận động tranh cử.Tháng 4 năm 1933, ông ra chỉ thị hành chính định nghĩa nồng độ cồn 3,2% được phép tiêu dùng. Sắc lệnh này theo sau hành động của Quốc hội nhằm thảo ra và thông qua tu chính án hiến pháp số 21 mà sau đó được thông qua vào cùng năm đó.

New Deal lần thứ hai, 1935 – 1936

Cuộc bầu cử quốc hội năm 1934 đã mang lại thuận lợi cho Roosevelt khi Đảng Dân chủ nắm đa số ghế áp đảo tại cả hai viện lập pháp. Đó cũng là lúc hình thành một cao trào mới cho New Deal trong quy trình lập pháp

Trong khi New Deal lần thứ nhất năm 1933 được đa số thành phần xã hội rộng rãi ủng hộ, New Deal lần thứ hai phải đối mặt với cộng đồng thương mại. Các Đảng viên Dân chủ bảo thủ, do Al Smith lãnh đạo, đánh trả bằng cách thành lập Liên đoàn Tự do Mỹ (American Liberty League). Họ tấn công Roosevelt một cách điên cuồng và so sánh ông với Marx và Lênin. Ngược lại, các công đoàn, được thêm năng lực nhờ vào Đạo luật Wagner, đã ký tên hàng triệu thành viên mới và trở thành lực lượng hậu thuẫn lớn cho các cuộc tái tranh cử của Roosevelt vào năm 1936, 1940 và 1944.

Môi trường Kinh tế

Suốt thời gian chiến tranh, nền kinh tế hoạt động dưới những điều kiện khác biệt nên việc so sánh với thời bình là không phù hợp. Tuy nhiên, Roosevelt coi các chính sách New Deal là tâm điểm di sản của ông. Trong bài Diễn văn về Tình trạng Liên bang năm 1944, ông chủ trương rằng người Mỹ nên coi quyền lợi kinh tế cơ bản như là một đạo luật nhân quyền thứ hai.

Nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiệm kỳ của Roosevelt.Tuy nhiên, sự phát triển này được theo sau là tình trạng thất nghiệp liên tục ở mức độ cao

Roosevelt không tăng thuế thu nhập trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu; tuy nhiên thuế sổ lương (payroll tax) cũng bắt đầu được đưa ra nhằm gây quỹ cho chương trình mới là An sinh Xã hội năm 1937.

Chính sách ngoại giao, 1933–1937

Việc không ký vào hiệp ước tham gia Hội Quốc Liên năm 1919 đã đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa biệt lập trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, không tham gia vào các tổ chức thế giới. Mặc dù Roosevelt có nền tảng chủ nghĩa Wilson, ông và bộ trưởng ngoại giao của ông là Cordell Hull đã hành động rất cẩn thận, tránh kích động chủ nghĩa biệt lập

Tái thắng cử lớn, 1936

Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1936, Roosevelt vận động tranh cử dựa vào các chương trình New Deal của ông chống lại đối thủ Alf Landon

Roosevelt và Garner chiến thắng với tỉ lệ 60,8% phiếu bầu phổ thông và chiến thắng gần như ở tất cả các tiểu bang, trừ Maine và Vermont

Nhiệm kỳ hai, 1937–1941

Khi nền kinh tế bắt đầu tồi tệ trở lại vào cuối năm 1937, Roosevelt đưa ra một chương trình kích cầu cấp tiến, xin Quốc hội chi 5 tỷ đô la cho công chánh và giải cứu Cơ quan Quản trị Tiến trình Xây dựng Công chánh (WPA). Sự kiện này giúp tạo ra đỉnh điểm 3,3 triệu việc làm do WPA quản lý vào năm 1938.

Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ là rào cản chính đối với những chương trình của Roosevelt trong suốt nhiệm kỳ hai vì nó lật ngược nhiều chương trình của ông.

Vì quyết tâm vượt qua sự chống đối của các Đảng viên Dân chủ bảo thủ (đa số từ miền Nam Hoa Kỳ), Roosevelt tự dấn thân vào các cuộc bầu cử sơ bộ Đảng Dân chủ năm 1938, tích cực vận động cho các ứng viên có thái độ ủng hộ hơn dành cho chương trình cải cách New Deal.

Chính sách ngoại giao, 1937–1941

Roosevelt chống đối đạo luật dựa trên lập luận rằng đạo luật đang trừng phạt nạn nhân của sự xâm lược, trong trường hợp này là Ethiopia, đạo luật cũng hạn chế quyền hạn tổng thống trong nỗ lực trợ giúp các quốc gia thân thiện, song sự ủng hộ của công chúng dành cho đạo luật quá lớn nên Roosevelt bị buộc phải ký ban hành.

Tháng 10 năm 1938, Roosevelt mở các buổi hội đàm bí mật với Pháp để xem có cách nào khắc phục được các luật lệ trung lập của Mỹ và cho phép Pháp mua các phi cơ Mỹ để lấp khoảng trống sản xuất trong ngành công nghiệp chế tạo phi cơ Pháp.

Ngày 28 tháng 1 năm 1939, một sĩ quan Không quân Pháp bị thương trong một vụ rơi máy bay tại Los Angeles. Vụ tai nạn này có liên quan đến một nguyên mẫu máy bay đầu tiên của loại oanh tạc cơ DB-7 khiến làm lộ bí mật các cuộc hội đàm bí mật Pháp-Mỹ. Chuyện bại lộ này dấy lên một làn sóng lớn của chủ nghĩa biệt lập chống lại Roosevelt và dẫn đến việc Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ tiến hành điều tra các cuộc hội đàm Pháp-Mỹ. Vì sự chống đối của chủ nghĩa biệt lập tại Quốc hội nên Roosevelt đã thực hiện một loạt những phát biểu trái ngược đến dân chúng Mỹ vào mùa đông năm 1939.

Ngày 2 tháng 9 năm 1940, Roosevelt công khai thách thức các đạo luật trung lập bằng việc ký hiệp ước trao 50 chiếc khu trục hạm cho Anh Quốc để đổi lấy quyền sử dụng các căn cứ hải quân của Anh Quốc tại các đảo thuộc Anh Quốc trong vùng biển Caribe và Newfoundland.

Roosevelt là một người suốt đời ủng hộ sự tự do mậu dịch và chống đối chủ nghĩa đế quốc cho nên việc kết thúc chủ nghĩa thuộc địa của châu Âu là một trong những mục tiêu của ông.

Bầu cử năm 1940

Trong chiến dịch tranh cử chống Đảng viên Cộng hòa Wendell Willkie, Roosevelt nhấn mạnh ý định của ông là sẽ làm mọi việc như có thể để giữ Hoa Kỳ ngoài cuộc chiến. Ông thắng bầu cử tổng thống năm 1940 với tỉ lệ 55% phiếu bầu phổ thông, thắng 38 trong số 48 tiểu bang.

Nhiệm kỳ thứ ba, 1941–1945

Nhiệm kỳ thứ ba của Roosevelt bị chi phối nhiều bởi Chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu và tại Thái Bình Dương.

Ngày 29 tháng 12 năm 1940, ông gửi tới công chúng Mỹ bài diễn văn “Kho thuốc súng của dân chủ” trong một buổi nói chuyện trên sóng phát thanh. Qua đó ông đưa vấn đề Hoa Kỳ trợ giúp Đồng minh trực tiếp đến công chúng Mỹ.

Một tuần sau đó vào tháng 1 năm 1941, ông đọc bài phát biểu nổi tiếng “Bốn tự do” (Four Freedoms), nêu thêm vấn đề Hoa Kỳ phải bảo vệ các quyền cơ bản trên toàn thế giới.

Vào giữa năm 1941, Roosevelt đã đưa Hoa Kỳ đứng về phe Đồng minh với một chính sách “tất cả là viện trợ, không tham chiến.”

Trân Châu Cảng

Tháng 7 năm 1941, sau khi Nhật Bản chiếm hết phần còn lại của Đông Dương, ông ngừng bán dầu cho Nhật Bản. Như thế Nhật Bản mất đến hơn 95% nguồn dầu cung ứng. Roosevelt tiếp tục các cuộc hội đàm với chính phủ Nhật Bản.

Theo hồ sơ cuộc điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ về Trân Châu Cảng thì:

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, phá hủy hoặc làm hư hại 16 chiến hạm trong đó phần lớn là các thiết giáp hạm của hạm đội, giết chết gần 3000 binh sĩ và nhân viên dân sự Mỹ.

Tuy làn sóng giận dữ lan khắp Hoa Kỳ sau vụ tấn công Trân Châu Cảng nhưng từ đầu Roosevelt đã quyết định rằng việc đánh bại Đức Quốc xã là ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ. Ngày 11 tháng 12 năm 1941, quyết định chiến lược “châu Âu trước tiên” của Hoa Kỳ được triển khai một cách dễ dàng hơn khi Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ

Giam cầm người Đức, Nhật và Ý tại Hoa Kỳ: Khi chiến tranh bắt đầu, nguy cơ bị Nhật Bản tấn công vào Tây Duyên hải đã khiến Hoa Kỳ buộc phải di dời những người gốc Nhật ra khỏi vùng duyên hải. . Ngày 19 tháng 2 năm 1942, Tổng thống Roosevelt ký Lệnh Hành pháp số 9066, di dời tất cả những người Nhật thuộc thế hệ di dân thứ nhất không có quốc tịch Mỹ và con cháu của họ, những người có hai quốc tịch. Sau khi Đức Quốc xã và Phát xít Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1941, các công dân Ý và Đức không có quốc tịch Mỹ và ủng hộ Hitler và Mussolini thường bị bắt và giam giữ.

Chiến lược chiến tranh

Bộ ba đại gia” (Roosevelt, Churchill, và Joseph Stalin) cùng với Đặc cấp Thượng tướng Tưởng Giới Thạch cùng hợp tác không chính thức mà theo đó quân Mỹ và Anh Quốc tập trung lực lượng tại phía Tây, quân Liên Xô chiến đấu ở mặt trận phía Đông, và quân Trung Hoa, Anh Quốc, Mỹ chiến đấu tại vùng Thái Bình Dương.

Roosevelt bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ là “Kho thuốc súng của Dân chủ” bằng việc gửi $50 tỷ đô-la hàng viện trợ theo Đạo luật Lend Lease, chủ yếu đến Anh Quốc sau đó là Liên Xô, Trung Hoa và các lực lượng Đồng minh khác.

Đồng minh tiến hành xâm chiếm Maroc và Algérie thuộc Pháp (Chiến dịch Torch) vào tháng 11 năm 1942, xâm chiếm Sicilia (Chiến dịch Husky) vào tháng 7 năm 1943, và xâm chiếm lục địa Ý (Chiến dịch Avalanche) vào tháng 9 năm 1943. Chiến dịch ném bom chiến lược leo thang vào năm 1944 đã cày nát tất cả các thành phố chính của Đức và cắt đứt các nguồn tiếp tế dầu.

Trong khi đó tại Thái Bình Dương, cuộc tiến công của Nhật Bản đã lên đến phạm vi cực điểm vào tháng 6 năm 1942 khi Hải quân Hoa Kỳ đã ghi được một chiến thắng mang tính định đoạt trong Trận Midway.

Roosevelt đã nhượng bộ một phần đối với những đòi hỏi trước sau như một của công chúng và Quốc hội là phải tận lực hơn trong việc chống Nhật Bản trong khi ông luôn một mực muốn đánh bại Đức trước.

Bầu cử 1944: Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1944, liên danh Roosevelt và Truman thắng 53% phiếu bầu phổ thông và thắng tại 36 tiểu bang chống lại đối thủ là Thống đốc New York, Thomas E. Dewey.

Nhiệm kỳ thứ tư và từ trần, 1945

Vào ngày 14 tháng 2, ông mở một cuộc họp lịch sử với vua Abdulaziz – vị vua khai quốc của Ả Rập Xê Út. Đây là một cuộc họp mang ý nghĩa trọng đại trong quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Xê Út thậm chí cho đến ngày nay.

Suốt tháng 3 năm 1945, ông gửi các thông điệp đến Stalin với những lời lẽ đanh thép, tố cáo Stalin phá vỡ những thỏa thuận thực thi của vị lãnh tụ Liên Xô tại Hội nghị Yalta về Ba Lan, Đức, tù binh, và các vấn đề khác.

Vào lúc 3:35 chiều ngày 12 tháng 4 năm 1945 Roosevelt qua đời.

DI SẢN

Roosevelt là nhân vật thế giới được công dân Hoa Kỳ kính phục đứng hạng sáu tính từ thế kỷ XX theo cuộc thăm dò của Gallup

Roosevelt đã thiết lập vững chắc vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ trên sân khấu thế giới với những tuyên ngôn như trong diễn văn “Bốn Tự do” của ông, tạo ra một nền tảng cơ bản cho vai trò tích cực của Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai và sau đó.

Ngôi nhà của Roosevelt tại thị trấn Hyde Park hiện nay là một di tích lịch sử quốc gia và là thư viện tổng thống. Nơi nghỉ ngơi miền quê của ông ở Warm Springs, tiểu bang Georgia hiện nay là một bảo tàng do tiểu bang Georgia điều hành. Nơi nghỉ ngơi mùa hè của ông trên Đảo Campobello được cả hai chính phủ Hoa Kỳ và Canada bảo trì, có tên gọi là Công viên Quốc tế Roosevelt Campobello; hòn đảo này có lối vào qua ngã Cầu Franklin Delano Roosevelt.

Đài tưởng niệm Franklin Delano Roosevelt nằm ở thủ đô Washington, D.C. bên cạnh Đài tưởng niệm Jefferson trên Hồ nước Tidal

Hình của Roosevelt có in trên tiền kim loại 10 xu đô-la. Nhiều công viên, trường học cũng như một hàng không mẫu hạm, một trạm xe điện ngầm ở Paris và hàng trăm con đường hay quảng trường khắp nước Mỹ và thế giới được đặt tên ông để vinh danh.

NHỮNG CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA FRANKLIN D.ROOSEVELT

Nếu bạn đối tốt với mọi người, 90% họ cũng sẽ đối tốt lại với bạn

Chín phần mười của sự khôn ngoan là khôn ngoan đúng lúc.

Có rất nhiều cách để tiến lên phía trước nhưng chỉ có một cách duy nhất để đứng yên.

Tôi không phải là đồng nghiệp thông minh nhất thế giới. Tuy nhiên, tôi chắc chắn có thể chọn lựa các đồng nghiệp thông minh.

Người cấp tiến là người có cả hai chân bước trên không. Người bảo thủ là người có đôi chân tuyệt vời nhưng chưa bao giờ học cách tiến lên phía trước. Kẻ phản động là kẻ mộng du luôn đi giật lùi. Một người tự do là người biết dùng hai tay và hai chân nghe theo mệnh lệnh của cái đầu.

Sức mạnh thể chất không bao giờ chịu đựng được tác động của sức mạnh tinh thần.

FRANKLIN D.ROOSEVELT

  1. Childhood

Franklin Delano Roosevelt was born on January 30, 1882, in the town of Hyde Park in the Hudson River valley, New York state. Franklin’s father, James Roosevelt, Sr. and his mother, Sara Ann Delano, both came from long-standing affluent families in New York state. Franklin’s paternal surname is of Dutch descent while their maternal surname is from France. Franklin is the only child of the family.

Roosevelt grew up in a privileged environment. Franklin’s paternal grandmother, Mary Rebecca Aspinwall, was a cousin of Elizabeth Kortright Monroe, wife of the fifth president of the United States, James Monroe. Franklin’s maternal grandfather, Warren Delano, Jr., descended from the Founding Fathers who came to America aboard the Mayflower, Richard Warren, Isaac Allerton, Degory Priest, and Francis Cooke, once made a fortune selling opium in China. 

Roosevelt went to an Anglican boarding school Groton in Massachusetts

Roosevelt completed his bachelor’s degree at Harvard University (Harvard College is a school of Harvard University). While studying at Harvard, Franklin’s five-year-old cousin Theodore Roosevelt was elected president; It was Theodore’s resolute leadership style and enthusiasm for reform that made him an ideal model and hero in FDR’s eyes.

In 1905, FDR entered Columbia law school but never graduated. After passing the New York State Bar exam in 1907, Roosevelt decided to drop out. In 1908, Roosevelt went to work for a prestigious corporation on Wall Street – Carter, Ledyard, Milburn – specializing in corporate law.

POLITICAL CAREER IN THE BEGINNING

New York State Senator: Roosevelt was elected on January 1, 1911, and quickly rose to prominence as the head of the “rebel” movement against the political machine “Tammany Hall” (the political group belonging to the Democratic Party that always played a major role). control New York City politics) is the faction that controls the Democratic Party in the state.

Deputy Secretary of the Navy Deputy Secretary of the Navy Franklin D. Roosevelt: Woodrow Wilson appointed Roosevelt to the position of Assistant Secretary of the Navy in 1913, reporting to Secretary of State Josephus Daniels.

Campaigning for Vice President of the United States: In the presidential campaign of Ohio Governor James M. Cox, the Democratic National Party Congress chose Roosevelt as the Vice Presidential candidate of the United States. However, Cox-campaign Roosevelt’s mate was soundly beaten in the presidential election by his Republican running companion, Warren G. Harding. Roosevelt went to New York to practice law and joined the newly founded Civitan Club of New York at the time, but few expected him to seek public office again.

A CAREER IN POLITICS

Governor of New York from 1928 to 1932: During his re-election campaign in 1930, Roosevelt relied on the support of the Tammany Hall organization in New York City; nevertheless, his Republican opponent, Charles H. Tuttle, made Tammany Hall’s corruption a campaign issue. As the election approached, Roosevelt directed an investigation into the purchasing and selling of court seats. He was re-elected with a margin of about 700,000 votes.

Presidential election of 1932: With the support of the most populous state, Roosevelt emerged as a strong candidate for the Democratic candidacy. But the race heated up when it became clear that the incumbent president, Herbert Hoover, would lose the 1932 presidential election.

When Texas leader John Nance Garner switched to FDR’s side, he was nominated for the position of vice president in Roosevelt’s campaign.

Roosevelt won with 57 percent of the popular vote and in all but six states.

First term, 1933-1937: Roosevelt was sworn in on March 4, 1933, amid the height of America’s biggest crisis in history.

1933-1934: The First New Deal

From March 9 through June 16, 1933, he introduced a record number of measures in Congress, all of which were carried.

On March 4, 1933, Roosevelt was inaugurated at a time when America was in a state of panic due to the collapse of the banking system. This incident inspired his famous comment, “The only thing we need dread is our consciousness fear.”

The US Congress passed the Emergency Banking Act the next day, proclaiming a “bank holiday” and announcing a program to allow banks to reopen.

This is his first recommended economic recovery measure.

Roosevelt’s rescue plan includes a continuance of Hoover’s relief program, renamed the Federal Emergency Service.

Roosevelt made agricultural relief a primary priority, establishing the Agricultural Adjustment Agency with the mission of increasing farm prices by paying farmers to halt farming and reduce livestock herding.

The National Industrial Recovery Act (NIRA) of 1933 sought to prevent severe rivalry by requiring industries to follow a set of standards. design the operational mechanisms for all enterprises in the industry, such as floor prices, compromises to minimize competition, and production standards

The policy of economic recovery was pursued through the use of “priming money” (that is, federal spending). To stimulate the economy, NIRA invested $3.3 billion on the Public Works Agency, which is supervised by US Secretary of the Interior Harold Ickes.

Administrative Order No. 6102 declares any personal gold held by United States citizens to be treasury property. The goal is to combat the rampant inflation in the economy.

The removal of the alcohol restriction also provided a fresh stream of tax money for him, allowing him to meet his campaign pledges. He issued an administrative decree in April 1933 defining an alcohol concentration of 3.2 percent. Consumption is permitted. This ordinance was passed in response to Congress’s activity in drafting and passing the 21st constitutional amendment, which was later ratified that same year.

1935–1936: The Second New Deal

The Democrats won an overwhelming majority of seats in both chambers of Congress in the 1934 federal elections, which favored Roosevelt. It is also time to create a new legislative climax for the New Deal.

While the bulk of society backed the First New Deal in 1933, the commercial community was opposed to the Second New Deal. The American Liberty League was formed by conservative Democrats led by Al Smith in response. They savaged Roosevelt, comparing him to Marx and Lenin. Unions, on the other hand, signed millions of new members and became key supporters of Roosevelt’s reelection in 1936, 1940, and 1944, thanks to the Wagner Act.

Economic situation

Because the economy runs under different conditions during conflict, comparisons with peacetime are inappropriate. Roosevelt, on the other hand, saw New Deal measures as crucial to his legacy. In his 1944 State of the Union Address, he argued for Americans to recognize basic economic concerns as a second human rights act.

During Roosevelt’s presidency, the economy expanded rapidly. However, this expansion was accompanied by continuously high levels of unemployment.

Before World War II, Roosevelt did not raise income taxes; however, a payroll tax was created in 1937 to fund the new program, Social Security.

1933–1937 Foreign Policy

The failure to sign the treaty to join the League of Nations in 1919 signified a major rise in isolationism in the United States’ foreign policy, with the country refusing to participate in world organizations. Despite his Wilsonian background, Roosevelt and his secretary of state, Cordell Hull, operated with caution to avoid fanning isolationism.

1936 was a pivotal re-election year.

During the 1936 presidential election, Roosevelt campaigned against competitor Alf Landon on his New Deal policies.

Roosevelt and Garner received 60.8 percent of the popular vote and won in all but Maine and Vermont.

Second term (1937–1944)

When the economy began to worsen again in late 1937, Roosevelt launched a bold stimulus package, requesting $5 billion in public works funding and bailing out the Public Works Administration (WPA). This event contributed to the WPA’s high of 3.3 million jobs in 1938.

The United States Supreme Court was the biggest impediment to Roosevelt’s policies during his second term, as it reversed many of them.

Roosevelt actively campaigned for political candidates in the 1938 Democratic primaries, determined to overcome resistance from conservative Democrats (particularly from the South). Members were more enthusiastic about the New Deal reform program.

Foreign Policy from 1937 to 1941

Roosevelt opposed the law because it punished the victims of aggression, in this case, Ethiopia and because it limited the president’s ability to aid friendly nations, but public support for the bill was so strong that Roosevelt was obliged to sign it.

In October 1938, Roosevelt held secret talks with France to explore if there was a way to circumvent America’s neutrality laws and allow France to purchase American planes to fill a manufacturing shortage, construct French planes.

A French Air Force officer was injured in a plane crash in Los Angeles on January 28, 1939. This crash featured an early prototype of the DB-7 bomber, revealing the secret of secret French-American discussions. This disclosure generated a massive surge of isolationism against Roosevelt and prompted the US Senate Armed Services Committee to investigate the Franco-American discussions. In the winter of 1939, in response to isolationist resistance in Congress, Roosevelt issued a series of contradicting pronouncements to the American people.

On September 2, 1940, Roosevelt publicly defied the neutrality regulations by signing a deal granting Great Britain the right to use British naval sites in the British Isles in exchange for the transfer of 50 destroyers. Caribbean and Newfoundland.

Ending European colonialism was one of Roosevelt’s lifelong aims as a proponent of free trade and anti-imperialism.

1940 General Election

Roosevelt underlined his resolve to do everything necessary to keep the United States out of the war throughout his campaign against Republican Wendell Willkie. He received 55% of the popular vote and won 38 of the 48 states in the 1940 presidential election.

1941–1945 was the third term.

World War II in Europe and the Pacific dominated Roosevelt’s third term.

In a radio address on December 29, 1940, he delivered the speech “Gunpowder of Democracy” to the American people. As a result, he directly addressed the matter of the United States assisting the Allies to the American people.

A week later, in January 1941, he made his famous “Four Freedoms” speech, in which he emphasized the need for the United States to protect fundamental human rights around the world.

Roosevelt’s strategy of “all help, no war” propelled the United States to the side of the Allies in mid-1941.

Pearl Harbor was attacked on December 7, 1941.

After Japan invaded the whole of Indochina in July 1941, he ceased selling oil to Japan. As a result, Japan lost about 95 percent of its oil supplies. Roosevelt’s contacts with the Japanese government proceeded.

According to the US Congressional hearing record on Pearl Harbor, Japan attacked the US Pacific Fleet Pearl Harbor on December 7, 1941, destroying or damaging 16 battleships, the majority of which were the fleet’s battleships, killing over 3,000 American soldiers and civilian employees.

While waves of rage raced over the United States in the aftermath of the Pearl Harbor assault, Roosevelt made it clear from the start that conquering Nazi Germany was a primary priority for the United States. When Germany and Italy declared war on the United States on December 11, 1941, the strategic decision of “Europe First” became more easily implemented.

Detention of Germans, Japanese, and Italians in the United States: When the war started, the threat of a Japanese attack on the West Coast compelled the United States to relocate citizens of Japanese heritage from the coast. President Roosevelt issued Executive Order No. 9066 on February 19, 1942, removing all non-U.S. first-generation Japanese immigrants and their descendants who had dual citizenship. Following the declaration of war by Nazi Germany and Fascist Italy on the United States in December 1941, Italian and German residents who did not have American citizenship and supported Hitler and Mussolini were frequently arrested and incarcerated.

Strategy for war

“The Great Trio” (Roosevelt, Churchill, and Joseph Stalin) worked informally with Senior Lieutenant General Chiang Kai-shek to concentrate American and British forces in the West, while Soviet troops fought on the Eastern Front and Chinese, British, and American troops battled in the Pacific.

Roosevelt pledged to the world that the United States would be “Democracy’s Gunpowder Warehouse” by transferring $50 billion in help through the Lend-Lease Act, principally to the United Kingdom, but also to the Soviet Union, China, other forces, Other potential allies.

The Allies invaded Morocco and French Algeria in November 1942 (Operation Torch), Sicily in July 1943 (Operation Husky), and mainland Italy in September 1943 (Operation Avalanche). In 1944, the growing strategic bombing campaign plowed through all of Germany’s major cities, cutting off oil supplies.

Meanwhile, the Japanese offensive in the Pacific reached a climax in June 1942, when the US Navy won a decisive victory at the Battle of Midway.

Roosevelt made a partial surrender to popular and congressional pressure to work harder against Japan, but he insisted on first defeating Germany.

Election 1944: Roosevelt and Truman defeated New York Governor Thomas E. Dewey in the 1944 presidential election, winning 53 percent of the popular vote and 36 states.

1945, fourth term and death

On February 14, he had a historic encounter with Saudi Arabia’s founder ruler, King Abdulaziz. Even today, this meeting is significant in the diplomatic relations between the United States and Saudi Arabia.

Throughout March 1945, he sent scathing communications to Stalin, accusing him of violating the Soviet leader’s Yalta Conference implementation commitments on Poland, Germany, prisoners of war, and other issues.

Roosevelt died on April 12, 1945, at 3:35 p.m.

ANCESTRY

According to Gallup polls, Roosevelt is the sixth most admired world figure among American citizens since the twentieth century.

With declarations like those in his “Four Freedoms” address, Roosevelt firmly established U.S. leadership on the world stage, laying the groundwork for an active U.S. engagement in the United States, World War II, and its aftermath.

Roosevelt’s home in Hyde Park is now a national historic site and presidential library. His country retreat in Warm Springs, Georgia is now a state-run museum of Georgia. His summer getaway on Campobello Island is maintained by both the US and Canadian governments, called Roosevelt Campobello International Park; The island is accessed via the Franklin Delano Roosevelt Bridge.

The Franklin Delano Roosevelt Memorial is located on Lake Tidal in Washington, D.C., close to the Jefferson Memorial.

Roosevelt’s image appears on ten-dollar bills. Many parks, schools, an aircraft carrier, a Paris subway station, and hundreds of streets and squares in the United States and around the world are named in his honor.

FRANKLIN D.ROOSEVELT FAMOUS QUOTES

If you are pleasant to people, 90% of them will be pleasant back.

Wisdom is nine-tenths of the time.

There are numerous ways to move forward, but only one way to remain stationary.

I’m not the brightest employee on the planet. However, I am capable of selecting intelligent coworkers.

Someone radical is someone who has both feet in the air. A conservative is someone who has strong legs but has never learned to run. A reactionary is a sleepwalker who constantly goes backward. A free man understands how to use his hands and feet to fulfill his head’s directions.

Mental strength can never be defeated by physical strength.

BILL GATES

TIỂU SỬ:

William Henry “Bill” Gates III (sinh ngày 28 tháng 10 năm 1955) là một doanh nhân người Mỹ, nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, hãng phần mềm khổng lồ mà ông cùng với Paul Allen đã sáng lập ra.

Khi ông học lớp 8, câu lạc bộ các bà mẹ (phụ huynh-Mothers Club) ở trường này đã dùng một khoản tiền nhờ việc bán các đồ dùng đã qua sử dụng để mua một máy đánh chữ cơ điện Model 33 ASR và một máy tính của hãng General Electric (GE) cho các học sinh của trường. Gates thấy thích thú khi lập trình trên máy tính của GE bằng ngôn ngữ BASIC, và ông đã bỏ các lớp toán để theo đuổi sở thích của mình. Ông đã viết chương trình đầu tiên trên máy tính này đó là các thao tác của trò chơi tic-tac-toe cho phép người chơi thi đấu với máy tính

Lúc 17 tuổi, Gates lập kế hoạch kinh doanh với Allen đó là Traf-O-Data nhằm đếm lưu lượng giao thông dựa trên bộ xử lý Intel 8008.

Hãng Computer Center Corporation (CCC) sáng chế ra PDP-10 đã cấm bốn học sinh trường Lakeside bao gồm Bill Gates, Paul Allen, Ric Weiland, và Kent Evans sử dụng hệ máy tính này trong mùa hè sau khi bốn người này đã khai thác các lỗi trong hệ điều hành để nhận được thêm thời gian sử dụng hệ máy tính này.

Khi hết hạn cấm, bốn học sinh đề nghị với công ty CCC là họ sẽ tìm các lỗi trong phần mềm của CCC và đổi lại họ được sử dụng các máy tính của công ty này. Thay vì sử dụng các hệ thống thông qua điện báo, Gates đã đến văn phòng CCC và nghiên cứu mã nguồn cho các chương trình khác nhau chạy trên hệ thống, bao gồm cả chương trình trong FORTRAN, LISP, và ngôn ngữ máy. Việc thỏa thuận với CCC bị kết thúc vào năm 1970, khi công ty này bị phá sản. Một năm sau, Information Sciences, Inc. đã thuê bốn học sinh trường Lakeside để viết một chương trình trả lương bằng ngôn ngữ COBOL, cho phép họ có thời gian sử dụng máy tính và bản quyền phần mềm của công ty. Sau khi những người quản lý ở trường biết được khả năng lập trình của ông, Bill đã được giao nhiệm vụ viết một chương trình lập thời khóa biểu cho các lớp học.

Gates tốt nghiệp trường Lakeside vào năm 1973. Ông đạt được 1590 trên 1600 điểm ở kỳ thi SAT và ghi danh vào Đại học Harvard trong mùa thu năm 1973. Khi học ở Harvard, ông đã quen Steve Ballmer, người sau này kế vị chức CEO của Microsoft.

Trong năm học thứ hai, Gates nghĩ ra thuật toán trong vấn đề sắp xếp bánh kếp, bài toán được xếp vào một trong những vấn đề chưa giải được, được nêu ra trong lớp toán tổ hợp của giáo sư Harry Lewis, một trong những người thầy của ông. Thuật toán của Gates đã giữ kỉ lục là thuật toán có thời gian giải nhanh nhất trên 30 năm;và thuật toán sau này chỉ nhanh hơn nó khoảng một phần trăm. Phương pháp của ông sau này được viết thành một bài báo chung với nhà khoa học máy tính ở Harvard là Christos Papadimitriou.

Gates không có kế hoạch học tập cụ thể ở Harvard và ông đã dành nhiều thời gian bên cạnh các máy tính ở trường. Ông vẫn liên lạc với Paul Allen, cùng tham gia vào Honeywell trong mùa hè năm 1974.Vào năm sau, chứng kiến sự ra đời của máy MITS Altair 8800 trên nền vi xử lý Intel 8080, lúc này Gates và Allen nhận ra đây là cơ hội cho họ sáng lập ra một công ty về phần mềm máy tính.Ông đã nói quyết định này với bố mẹ ông, họ đã ủng hộ ông sau khi thấy được ông sẽ cần bao nhiêu tiền để bắt đầu lập nghiệp với công ty.

SỰ NGHIỆP

Microsoft : Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ có trụ sở chính tại Redmond, Washington; chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính. Công ty được sáng lập bởi Bill Gates và Paul Allen vào ngày 4 tháng 4 năm 1975. Được thành lập để phát triển phần mềm trình thông dịch BASIC cho máy Altair 8800, Microsoft vươn lên thống trị thị trường hệ điều hành cho máy tính gia đình với MS-DOS giữa những năm 1980.

BASIC

Giám đốc MITS là Ed Roberts đồng ý cho họ sử dụng phiên bản demo, và chỉ trong vài tuần họ đã phát triển chương trình giả lập máy Altair chạy trên một máy tính mini, và sau đó là ngôn ngữ BASIC.

Họ đặt tên cho sự hợp tác giữa Gates và Allen là “Micro-Soft” và trụ sở đầu tiên của công ty đặt ở Albuquerque.

BASIC của Microsoft được phổ biến trong giới đam mê máy tính, nhưng Gates đã phát hiện ra rằng bản sao chép trước khi phần mềm được đưa ra thị trường đã bị rò rỉ ra cộng đồng và nhanh chóng nó được sao chép và phân tán.

Trong 5 năm đầu, cá nhân ông thường đánh giá từng dòng lệnh trong các phần mềm đóng gói của công ty, và thường viết lại từng phần của chúng cho đến khi ông thấy phù hợp.

ĐỐI TÁC

Năm 1980, IBM thông qua Microsoft để viết trình thông dịch BASIC cho máy tính cá nhân sắp được tung ra của họ là máy IBM PC.

Sau khi nâng cấp hệ điều hành cho phù hợp với PC, Microsoft chuyển giao nó cho IBM với tên gọi PC-DOS với phí một lần trao đổi là $50.000.

Gates giám sát quá trình tái cơ cấu Microsoft vào ngày 25 tháng 6 năm 1981, trong đó kết hợp lại công ty ở tiểu bang Washington và Gates trở thành Chủ tịch và Chủ tịch hội đồng quản trị của Microsoft.

WINDOWS

Microsoft phát hành phiên bản bán lẻ đầu tiên của Microsoft Windows vào ngày 20 tháng 11 năm 1985, và trong tháng 8, công ty ký hợp đồng với IBM nhằm phát triển một hệ điều hành riêng biệt gọi là OS/2. Mặc dù hai công ty đã phát triển thành công phiên bản đầu tiên của hệ điều hành mới, nhưng sự gắn kết giữa những ý tưởng sáng tạo khác nhau đã dần làm suy yếu quan hệ đối tác. Gates phân phát một bản ghi nhớ nội bộ ngày 16 tháng 5 năm 1991 tuyên bố chấm dứt sự hợp tác trong OS/2 và Microsoft sẽ chuyển sang nỗ lực phát triển nhân hệ điều hành Windows NT.

VỤ KIỆN CHỐNG ĐỘC QUYỀN

Các luật chống độc quyền Hoa Kỳ là một tập hợp các luật và quy định của chính phủ liên bang và chính quyền các tiểu bang Hoa Kỳ quy định việc thực hiện và tổ chức của các tập đoàn kinh doanh, nói chung để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh vì lợi ích của người tiêu dùng. (Khái niệm này được gọi là luật cạnh tranh ở các nước nói tiếng Anh khác.) Các quy định pháp lý chính gồm có Đạo luật Sherman năm 1890, Đạo luật Clayton năm 1914 và Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang năm 1914. Các đạo luật này, đầu tiên, là hạn chế sự hình thành các liên minh các-ten và cấm các hành vi thông đồng khác được xem là gây hạn chế thương mại. Thứ hai, các đạo luật và quy định này hạn chế các vụ sáp nhập và mua lại của các tổ chức đó có thể làm giảm đáng kể cạnh tranh. Thứ ba, các đạo luật và quy định này cấm việc tạo ra sự độc quyền và lạm dụng quyền lực độc quyền.

Nhiều quyết định của Bill Gates trong hoạt động kinh doanh của Microsoft đã dẫn đến vụ kiện chống độc quyền nhằm vào tập đoàn.

Tòa đã phán quyết rằng Microsoft đã độc quyền và bán kèm đối với những sản phẩm của mình làm cản trở sự cạnh tranh trong thị trường, cả hai điều này đều vi phạm đạo luật chống độc quyền Sherman

THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

Năm 1987, Gates lần đầu tiên trở thành tỷ phú khi có tên trong danh sách Những người giàu nhất Forbes 400 xuất bản ở Hoa Kỳ, chỉ một ngày trước lần sinh nhật thứ 32 của ông. Là một tỷ phú tự thân lập nghiệp trẻ nhất thế giới với tài sản khi đó là 1,25 tỷ $, tăng hơn 900 triệu $ so với tài sản ông có ở năm trước.

Ông xếp thứ nhất trong “Top 50 Nhân vật Công nghệ” của Time năm 1998, xếp thứ hai trong “Danh sách 100 người nổi tiếng” của tờ Upside năm 1999 và là một trong “Top 100 người ảnh hưởng trong truyền thông” của The Guardian năm 2001.

Tháng 11 năm 2006, ông và vợ nhận Tước hiệu Đại bàng Aztec cho hoạt động từ thiện của họ trên thế giới trong các lĩnh vực sức khỏe và giáo dục, đặc biệt ở Mexico với chương trình “Un país de lectores”.

Tháng 10 năm 2009, Gates nhận Giải thưởng Bower 2010 trong lĩnh vực Người lãnh đạo kinh doanh của Viện Franklin vì những thành tựu trong kinh doanh và công tác từ thiện. Năm 2010 ông nhận Giải bạc Buffalo của Hội Nam Hướng đạo Mỹ, giải thưởng cao nhất dành cho người lớn vì những hoạt động dành cho tuổi trẻ.

Năm 2011, Bill Gates là một trong năm người quyền lực nhất trên thế giới theo tạp chí Forbes.

Năm 2013 ông và bà vợ được Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ trao tặng Huy chương Phúc lợi công cộng.

NHỮNG CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA BILL GATES

Cuộc sống vốn không công bằng – Hãy tập quen dần với điều đó

Hãy hòa nhã với những kẻ dở hơi. Ai biết được ngày sau và khi đó bạn có thể phải làm việc cho một kẻ như vậy

Nếu bạn sinh ra trong nghèo khó, đó không phải là lỗi của bạn. Nhưng nếu bạn chết trong nghèo khó, thì đó là lỗi của bạn. 

Khi bạn có tiền trong tay, chỉ có bạn quên mất mình là ai. Nhưng… khi bạn không có đồng nào, cả thế giới sẽ quên đi bạn là ai. Đó là cuộc sống! 

Thành công là một người thầy tồi tệ. Nó quyến rũ những người thông minh vào ý nghĩ rằng họ không thể thất bại.

Đừng so sánh bản thân với người khác. Làm như vậy là bạn đang tự xúc phạm mình đấy.

Tôi chọn người lười biếng để làm những việc khó khăn. Bởi một người lười biếng sẽ tìm ra cách dễ dàng để làm việc đó.

BILL GATES

HISTORY: 

William Henry “Bill” Gates III (born October 28, 1955) is an American businessman, philanthropist, author, and chairman of Microsoft Corporation, which he co-founded with Paul Allen.

When he was in eighth grade, the school’s Mothers Club used proceeds from the sale of used equipment to purchase a Model 33 ASR electromechanical typewriter and a new model. Students at the school will use General Electric (GE) computers. Gates enjoyed programming in the BASIC language on GE’s computers, and he dropped out of math studies to pursue his pastime. On this computer, he built the first software, which was a modification of the game tic-tac-toe that allowed players to compete against the machine.

At the age of 17, Gates and Allen established Traf-O-Data, a business idea to count traffic using the Intel 8008 processor.

The Computer Center Corporation (CCC), which invented the PDP-10, prohibited four Lakeside high school students, Bill Gates, Paul Allen, Ric Weiland, and Kent Evans, from using the system over the summer after they reported it. To gain extra time with this machine, take advantage of flaws in the operating system.

When the prohibition expired, the four students proposed to CCC that they uncover faults in CCC’s software and then return to use the company’s computers. Instead of utilizing the telegraph to access the systems, Gates went to the CCC office and studied the source code for the many programs that ran on the system, including those written in FORTRAN, LISP, and machine language. The contract with CCC expired in 1970 when the company declared bankruptcy. After a year, Information Sciences, Inc. employed four Lakeside students to create a payroll program in the COBOL programming language, giving them time to use the company’s computer and software licenses. Bill was charged with building a program to schedule classes when school administration discovered his programming abilities.

In 1973, Gates graduated from Lakeside School. He received an SAT score of 1590 out of 1600 and started at Harvard University in the fall of 1973. During his time at Harvard, he met Steve Ballmer, his successor as CEO of Microsoft.

During his sophomore year, Gates invented an algorithm for the pancake sorting problem, which was classed as one of the unsolved problems, and presented it in Professor Harry Lewis’s combinatorial math class. For over 30 years, Gates’ method has held the record for the quickest algorithm, and the latter is only approximately 1% faster. His method was eventually published in a study co-authored by Harvard computer scientist Christos Papadimitriou.

At Harvard, Gates did not have a clear study plan[27], and he spent a lot of time near the computers. He kept in touch with Paul Allen before joining Honeywell in the summer of 1974. Following the debut of the MITS Altair 8800 based on the Intel 8080 processor the following year, Gates and Allen believed this was the moment for them to launch a computer software company. He informed his parents of his intention, and they supported him after learning how much money he would need to start the business.

CAREER

Microsoft is a multinational firm located in Redmond, Washington that specializes in the creation, production, and sale of software copyrights, as well as support for a wide range of computer-related products and services. Bill Gates and Paul Allen launched the firm on April 4, 1975. Microsoft emerged to dominate the operating system market for personal computers after being founded to provide BASIC interpreter software for the Altair 8800. In the mid-1980s, a family was infected with MS-DOS.

BASIC

MITS director Ed Roberts agreed to let them use the demo version, and within a few weeks, they had created an Altair machine emulation that ran on a minicomputer, as well as the BASIC language.

They called Gates and Allen’s venture “Micro-Soft,” and the company’s first offices were in Albuquerque.

Microsoft’s BASIC was popular among computer aficionados, but Gates learned that a copy was leaked to the community before the software was launched to the market, and it was promptly duplicated and circulated.

During the first five years, he assessed each line of bundled software from the company and frequently rebuilt parts of it as he saw fit.

COLLABORATOR

IBM hired Microsoft to build the BASIC interpreter for their future personal computer, the IBM PC, in 1980.

Microsoft transferred the operating system to IBM as PC-DOS after updating it to fit the PC for a one-time exchange charge of $50,000.

On June 25, 1981, Gates led Microsoft’s reorganization, which incorporated the firm in Washington state, and Gates became Chairman and Chairman of the Board of Directors of Microsoft.

WINDOWS 

On November 20, 1985, Microsoft published the first retail version of Microsoft Windows, and in August, the corporation contracted with IBM to build OS/2, a rival operating system. Even though the two firms successfully produced the initial version of the new operating system, the cohesiveness of various unique ideas has steadily eroded the relationship. On May 16, 1991, Gates issued an internal memo declaring the end of OS/2 collaboration and the focus of Microsoft’s attention to the development of the Windows NT kernel.

LAWSUIT AGAINST MONOPOLY

The antitrust laws of the United States are a set of federal and state government laws and regulations that govern the conduct and formation of business entities to encourage competition. Consumers profit from fair competition. (In other English-speaking nations, this notion is known as competition law.) The Sherman Act of 1890, the Clayton Act of 1914, and the Federal Trade Commission Act of 1914 are all important legislative laws. These regulations, first and foremost, inhibit the establishment of cartel alliances and outlaw other collaboration that is perceived as limiting trade. Second, this legislation and regulations prohibit such entities from engaging in mergers and acquisitions that could materially undermine competition. Third, these rules and regulations forbid the formation of monopolies as well as the misuse of monopoly power.

Many of Bill Gates’ decisions in Microsoft’s operations resulted in the company being sued for antitrust violations.

The court held that Microsoft monopolized and bundled its products, impeding market competition, in violation of the Sherman antitrust laws.

ACHIEVEMENTS OBTAINED

In 1987, only a day before his 32nd birthday, Gates became a billionaire for the first time when he was named to the Forbes 400 Richest People list published in the United States. As the world’s youngest self-made billionaire, he had a net worth of $1.25 billion at the time, an increase of more than $900 million over the previous year.

In 1998, he was named first in Time’s “Top 50 Tech People,” second in the Upside’s “Celebrity 100 List,” and one of Time’s “Top 100 Media Influencers” in 2001.

In November 2006, he and his wife were awarded the title of Aztec Eagle for their humanitarian work in the sectors of health and education around the world, particularly in Mexico with the program “Un país de lectores”.

Gates received the Franklin Institute’s 2010 Bower Prize in Business Leadership in October 2009 for his achievements in business and philanthropy. In 2010, he received the Boy Scouts of America’s Buffalo Silver Recognition, the highest award for adults participating in youth activities.

According to Forbes magazine, Bill Gates was one of the five most powerful individuals in the world in 2011.

The US National Academy of Sciences honored him and his wife with the Medal of Public Welfare in 2013.

 BILL GATES FAMOUS QUOTES

Get used to the fact that life isn’t fair.

Idiots should be treated with care. Who knows what will happen the next day and when you’ll have to work for someone like that?

It’s not your fault if you were born poor. But it’s your fault if you die impoverished.

Only when you have money in your palm do you forget who you are. But… if you don’t have any money, the rest of the world will forget about you. That is the way of life!

Success is a bad teacher. It persuades educated people that they cannot fail.

Don’t put yourself in the same category as others. You are demeaning yourself by doing so.

I choose lazy people to accomplish difficult tasks. Because a lazy individual will discover an easier method.

MAHATMA GANDHI

Tiểu sử

Mohandas Karamchand Gandhi sinh trong một gia đình Ấn Độ giáo thuộc cộng đồng Modh (một nhóm thương gia ở Gujarat). Tại Porbandar, bang Gujarat, Ấn Độ vào ngày 2 tháng 10 năm 1869.

Lớn lên trong một môi trường được ảnh hưởng bởi những người theo Kì-na giáo tại Gujarat. Gandhi sớm cảm nhận nguyên tắc bất hại, ăn chay, phương pháp nhịn ăn để thanh lọc tâm thức. Cũng như sự khoan dung lẫn nhau của các tín đồ và tông phái.

Gandhi là một sinh viên trung bình tại Porbandar và sau đó là tại Rajkot. Ông đậu khoá thi vào Đại học Mumbai năm 1887 với số điểm vừa đủ, và vào học viện Shamaldas tại Bhavnagar

Gia đình muốn ông trở thành luật sư để giữ truyền thống nắm quyền cao tại Gujarat.

Không cảm thấy thú vị tại học viện Shamaldas, Gandhi liền nắm thời cơ du học nước Anh. Nước được ông xem là “quốc gia của những triết gia và thi nhân, trung tâm đích thực của nền văn minh”.

Vào tuổi 19, Gandhi vào Đại học College Luân Đôn (một trường thuộc Đại học Luân Đôn) học ngành luật.

Ông bắt đầu đọc những tác phẩm nói về Ấn Độ giáo, Kitô giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác.

Ông trở về Ấn Độ sau khi được phép làm luật sư vào tháng 6 năm 1891.

Năm 1893, ông chấp nhận một hợp đồng lâu dài của một công ty Ấn Độ, nhậm chức tại Natal, Nam Phi.

Quá trình đấu tranh

Phong trào vận động quyền công dân tại Nam Phi

Nam Phi đã biến đổi ông một cách sâu sắc khi ông chứng kiến sự hạ nhục. Cũng như sự đàn áp mà cộng đồng Ấn Độ thường phải chịu đựng.

Trong thời gian tại Nam Phi, chứng kiến tận mắt chế độ kì thị chủng tộc, thành kiến, bất công. Gandhi bắt đầu tham vấn địa vị trong xã hội của những người đồng hương và của chính mình.

Khi hợp đồng làm việc chấm dứt, Gandhi thu xếp trở về Ấn Độ. ( SỬA TỚI ĐÂY RỒI @) 20 TỪ)

Trong buổi tiệc tiễn đưa tại Durban, ông tình cờ đọc một bài báo nói về một dự thảo pháp luật được Hội đồng lập pháp Natal đề nghị nhằm loại bỏ quyền bầu cử của người di dân Ấn Độ. Và người dân ở đây nhờ ông ở lại giúp đỡ họ phản bác dự thảo này vì họ không có đủ kiến thức.

Năm 1896, Gandhi trở về Ấn Độ với mục đích mang vợ con sang Nam Phi.

Năm 1897, khi trở lại Nam Phi, ông bị một nhóm bạo lực da trắng tấn công và tìm cách sát hại bằng tư hình.

Khi Chiến tranh Nam Phi bắt đầu, Gandhi chủ trương là người Ấn phải hỗ trợ chiến tranh để hợp pháp hóa yêu cầu trở thành công dân chính thức. Ông tổ chức một nhóm tình nguyện cứu thương gồm 300 người Ấn Độ và 800 người làm mướn. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, tình trạng của người Ấn tại Nam Phi không khả quan hơn, vẫn tiếp tục sa đọa.

Những năm lưu trú tại Nam Phi với tư cách một người chủ trương hành động chuyên về xã hội chính trị chính là thời kỳ những khái niệm và kỹ thuật của phương pháp bất hợp tác và phản đối bất bạo lực được phát triển. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, ông quyết định trở về Ấn Độ, mang theo tất cả những gì ông đã học được từ những kinh nghiệm tại Nam Phi.

Phong trào đấu tranh giành độc lập Ấn Độ

Champaran và Kheda 

Gandhi năm 1918 Những thành tích lớn đầu tiên của Gandhi xảy ra vào năm 1918 với cuộc kích động tại Champaran và phong trào Chấp trì chân lý tại Kheda mặc dù ông chỉ thực hiện trên mặt danh nghĩa trong trường hợp thứ hai và người chính chủ đạo là Sardar Vallabhbhai Patel, cánh tay phải của Gandhi.

Ông tổ chức một công trình nghiên cứu để có được một tổng quan về các thôn làng, xem xét những sự tàn bạo và những tình tiết thống khổ bao gồm những trạng thái thoái hóa của cuộc sống nói chung.

Nhưng cuộc phát động có tổ chức đầu tiên của Gandhi xảy ra khi ông bị cảnh sát bắt giam với lý do gây bạo động và được yêu cầu rời địa phương này. Hàng trăm nghìn người biểu tình chống đối, vây quanh nhà giam, các trạm cảnh sát và quan tòa đòi trả tự do lại cho ông, một sự việc pháp tòa không muốn nhưng sau cũng phải thực hiện.

Danh tiếng Gandhi từ đây như một ngọn lửa lan truyền khắp nước và ông đã trở thành năng lực ảnh hưởng nhất định trong phong trào chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ.

Phát động phong trào bất hợp tác

Dự thảo pháp luật Rowlatt được duyệt năm 1919, cho phép chính phủ bắt giam những người bị vu khống gây loạn mà không cần đưa ra tòa duyệt. Gandhi và đảng Quốc dân Đại hội tổ chức những cuộc biểu tình lớn phản đối và đình công, và tất cả những cuộc phản đối này đều được tổ chức rất hòa bình trên khắp nước.

Tháng 4 năm 1920, Gandhi được bầu làm chủ tịch hội Liên hiệp Tự trị Toàn Ấn Độ (All India Home Rule League). Ông được trao uy quyền chấp hành trong đảng Quốc dân Đại hội tháng 12 năm 1921.

Gandhi bị bắt bỏ tù ngày 10 tháng 3 năm 1922. Ông bị đưa ra tòa vì lý do gây loạn và kết án sáu năm tù.

Không có nhân cách hùng mạnh của Gandhi để kiềm chế các người đồng sự. Đảng Quốc dân Đại hội bắt đầu tan vỡ, phân thành hai phái trong thời gian ông ngồi tù.

Gandhi tìm cách bắc cầu nối những điểm sai biệt này bằng nhiều phương tiện. Bao gồm một cuộc tuyệt thực ba tuần mùa thu năm 1924, nhưng chỉ với kết quả hạn chế.

Những năm 1930: Hội đồng Simon, Chấp trì chân lý muối

Gandhi thúc đẩy một nghị quyết thông qua Quốc dân Đại hội Calcutta vào tháng 12 năm 1928. Ông kêu gọi chính quyền Anh đảm bảo địa vị chủ quyền (dominion status) trong vòng một năm. Hoặc đối đầu một chiến dịch bất bạo lực mới, mục đích giành độc lập hoàn toàn cho đất nước.

Tháng 3 năm 1930, ông phát động chiến dịch Chấp trì chân lý phản đối thuế muối. Được nhấn mạnh bởi cuộc Hành trình muối (Salt March) đến Dandi nổi tiếng. Kéo dài từ 21 tháng 3 đến 6 tháng 4 năm 1930.

Hiệp ước Gandhi-Irwin được đóng dấu tháng 3 năm 1931.

Ngày 8 tháng 5 năm 1933, Gandhi bắt đầu một cuộc tuyệt thực 21 ngày để phản đối sự đàn áp của người Anh tại Ấn Độ.

Gandhi tiếp tục đấu tranh chống kỳ thị dân Dalit, khuyến khích dệt tay và ngành kỹ nghệ tại gia khác.

Ngày 3 tháng 3 năm 1939, ông lại tuyệt thực một lần nữa.

“Làm hay chết”: Chiến tranh thế giới thứ hai và “Rời Ấn Độ”

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939 khi Đức Quốc Xã xâm lấn Ba Lan. Gandhi hoàn toàn đồng cảm với nạn nhân của sự xâm chiếm này.

Gandhi nâng cao yêu cầu, thảo một nghị quyết kêu gọi người Anh “Rời Ấn Độ” (Quit India).

Ông nói tình trạng “vô chính phủ có tổ chức” quanh ông “nguy hiểm hơn vô chính phủ thật sự”. Ông yêu cầu người dân duy trì kỷ luật hòa bình và “làm hay chết” vì tự do tuyệt đối.

Gandhi và toàn bộ ban chấp hành Quốc hội bị bắt giam 09/08/1942 tại Mumbai bởi quân đội nước Anh.

Sự đàn áp tàn nhẫn mang đến một trạng thái trật tự tương đối tại Ấn Độ cuối năm 1943. Thế nhưng phong trào “Rời Ấn Độ” đã thành công với những mục tiêu của nó.. Gandhi đình chỉ đấu tranh, những người lãnh đạo Quốc hội và khoảng 100.000 người tù chính trị được thả. Sau 90 năm phấn đấu, tự do giờ đây nằm trong tầm tay Ấn Độ.

Tự do và sự phân chia Ấn Độ

Gandhi khuyên Quốc hội từ khước những đề nghị trong kế hoạch của phái đoàn chính phủ Anh năm 1946. Vì ông nghi ngờ việc chia quyền với Liên minh Hồi giáo (Muslim League).Hơn nữa, sự phân chia và hạ giảm chính quyền trung ương có thể xảy ra.

Những nhà lãnh đạo cố cựu của Quốc hội biết rõ Gandhi sẽ phản đối cực lực sự phân chia. Và họ cũng biết là Quốc hội không tiến bước nếu không có sự thoả thuận của ông. Bởi vì sự hỗ trợ trong đảng và toàn quốc dành cho Gandhi rất sâu rộng.

Gandhi có ảnh hưởng lớn trong các cộng đồng Ấn Độ giáo và Hồi giáo tại Ấn Độ. Tương truyền chỉ sự hiện diện của ông thôi cũng đủ chấm dứt các cuộc bạo động. Ông phản đối kịch liệt tất cả những kế hoạch phân chia Ấn Độ thành hai quốc gia độc lập.

Bị ám sát: 30/01/1948, trên đường đến nơi thờ tụng, Gandhi bị bắn chết bởi Nathuram Godse tại tòa nhà Birla, New Delhi.

HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT

Bộ phim Gandhi (1982), của đạo diễn  Richard Attenborough, diễn viên Ben Kingsley đoạt giải Oscar cho phim hay nhất.

Philip Glass soạn ca kịch Satyagraha nói về sự nghiệp của Gandhi.

Có nhiều tượng Gandhi nổi tiếng tại Anh. Đáng chú ý  là tượng ở Tavistock Gardens, Luân Đôn, gần Đại học College London, nơi ông đã học luật.

Pietermaritzburg, Nam Phi, nơi Gandhi bị tống ra khỏi toa xe năm 1893, có một bức tượng của Gandhi . Nó được dựng lên 100 năm sau khi sự kiện xảy ra.

NHỮNG CÂU NÓI NỔI TIẾNG CỦA MAHATMA GANDHI

Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn nhìn thấy ở thế giới này (Be the change you want to see in the world)

Hãy sống như rằng ngày mai bạn phải chết đi, và hãy học hỏi như rằng bạn sẽ sống đời đời. ( Live as if you were to die tomorrow. Learn as if you were to live forever.

Hạnh phúc, là khi những gì bạn nghĩ, những gì bạn nói, những gì bạn làm cùng hòa hợp lại với nhau.

Chúa không phải là tôn giáo.

Tương lai phụ thuộc vào những gì chúng ta làm ngày hôm nay.

Sức mạnh không đến từ năng lực thể chất mà đến từ một ý chí bất khuất.

Chỉ có một sự thật, nhưng nó tồn tại theo nhiều cách.

NELSON MANDELA

TIỂU SỬ 

Nelson Rolihlahla Mandela sinh ngày 18/07/1918 tại Mvezo, một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Umtata, thủ phủ của Transkei.

Nelson Mandela từ trần vào ngày 5 tháng 12 năm 2013 tại thành phố Johannesburg, hưởng thọ 95 tuổi.

Rolihlahla Mandela là người đầu tiên trong gia đình được đi học. Tại đó cô giáo Mdingane đã đặt cho ông một cái tên tiếng Anh là “Nelson”.

Mandela đi học trường truyền giáo thuộc Hội Giám lý nằm kế bên lâu đài của quan nhiếp chính. Theo phong tục của người Thembu, ông được thụ giáo lúc 16 tuổi, rồi đi học Học viện Clarkebury Boarding.

Mandela đã hoàn tất Bằng sơ trung học chỉ trong vòng hai năm, thay vì ba năm như thông thường. Năm 1937, Mandela chuyển đến trường Healdtown, ngôi trường tại Fort Beaufort, nơi con cháu hoàng tộc Thembu đều học. Vào lúc 19 tuổi, ông bắt đầu quan tâm đến bộ môn quyền anh và chạy bộ tại trường.

Sau đó, ông đậu vào học bằng Cử nhân tại Trường Đại học Fort Hare.

Cuối năm nhất, Mandela tham gia vụ tẩy chay của Hội sinh viên nhằm chống lại quy định trường. Và bị buộc phải rời trường, không được trở lại khi ông chưa chấp nhận cuộc bầu cử của Hội. Trong tù, Mandela học bằng Cử nhân luật của Chương trình đào tạo từ xa của Đại học Luân Đôn.

HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ

Mahatma Gandhi có ảnh hưởng lớn đến cách thức đấu tranh của Mandela. Và cả phương pháp giành thắng lợi của các nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid các thế hệ sau. Mandela đã từng tham dự một hội nghị diễn ra tại New Delhi năm 2007. Đánh dấu 100 năm ngày Gandhi đưa ra thuyết satyagraha (phản kháng bất bạo động) tại Nam Phi.

Hoạt động chống Chủ nghĩa Apartheid: Năm 1961, Mandela trở thành người đồng sáng lập và là lãnh đạo vũ trang của ANC, Umkhonto we Sizwe. Mandela đã xem bước chuyển sang đấu tranh vũ trang là phương kế cuối cùng. Tháng 7 năm 2008, Mandela và các đảng viên ANC vẫn bị hạn chế đi đến Hoa Kỳ. Ngoại trừ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Manhattan  nếu không có giấy phép của Ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vì họ bị quy là khủng bố trong thời kỳ chế độ apartheid ở Nam Phi.

Bị bắt giữ và phiên tòa Rivonia: Ngày 5 tháng 8 năm 1962 Mandela bị bắt sau khi ẩn náu được 17 tháng. Sau đó ông bị giam giữ tại Pháo đài Johannesburg. 01/06/1964, ông phải ra tòa lần nữa vì những hoạt động trong Hội đồng Quốc gia châu Phi (ANC). Cảnh sát đã bắt giữ nhiều lãnh đạo cốt cán của ANC vào ngày 11 tháng 7 năm 1963. Mandela bị xét xử chung, tại Phiên tòa Rivonia, họ bị chánh án Percy Yutar cáo buộc nhiều tội danh.Tất cả mọi người trừ Rusty Bernstein đều bị tuyên là có tội. Nhưng họ thoát khỏi án treo cổ mà bị tuyên tù chung thân vào ngày 1206/1964

Thời gian trong tù : Nelson Mandela bị giam giữ tại Đảo Robben. Và ông đã ở đây 18 năm trong tổng số 27 năm trong tù của ông. Trong tù Mandela tham gia khóa học từ xa của Đại học Luân Đôn và nhận bằng Cử nhân Luật. Tháng 3/1982 Mandela được chuyển từ Đảo Robben sang Nhà tù Pollsmoor, cùng với các nhà lãnh đạo ANC khác. Tháng 2 năm 1985 Tổng thống P.W. Botha đề nghị trả tự do cho Mandela .Với điều kiện ông phải ‘từ bỏ phương cách đấu tranh chính trị bằng bạo lực vô điều kiện’. Năm 1988 Mandela được chuyển đến Nhà tù Victor Verster và ở đó cho đến khi ông được phóng thích.

Call Now Button